ĐÁNH GIÁ CUNG VÀ CẦU SẢN PHẨM RAU AN TOÀN CỦA SƠN LA TỪ KẾT QUẢ KHẢO SÁT NGƯỜI SẢN XUẤT, TIÊU DÙNG VÀ BÁN HÀNG

54

        Trong khuân khổ Dự án “Hỗ trợ Cải thiện thu nhập của người nông dân thông qua tái thiết nông nghiệp tổng hợp khu vực đồi núi” đã tiến hành khảo sát 60 hộ dân tại 2 bản Dự án, 90 người tiêu dùng tại Thành Phố Sơn La và 20 người bán hàng rau củ quả tại Thành Phố Sơ La. Kết quả khảo sát đã bước đầu cho chúng ta thấy được những nét cơ bản của chuỗi cung ứng rau an toàn tại Thành Phố Sơn La.

          Kết quả khảo sát là cơ sở để Dự án xây dựng các kế hoạch triển khai hoạt động canh tác, bảo quản chế biến và thị trường phù hợp với tình hình thực tiễn và đạt được những kết quả cao nhất.

            * Trong 30 hộ dân khảo sát tại Bản Thẳm (100% dân tộc Thái) chúng tôi có được một số kết quả cụ thể như sau:

            – Thu nhập bình quân của hộ gia đình là 115 triệu/năm/hộ (chiếm 56%).  Trung bình các hộ dân sử dụng 1200m2 đất để sản xuất rau chính là: Các loại rau cải, Dưa chuột, Cà chua, Mướp đắng.

Bảng 01: Chi phí sản xuất rau tại Bản Thẳm

TT Hạng mục chi phí Số hộ Tỷ lệ Giá trị nhỏ nhất (trđ) Giá trị lớn nhất (trđ) Trung bình
1 Giống 30/30 100% 0, 5 5 1,85
2 Thuốc bảo vệ TV 22/30 73% 0 3 0,43
3 Phân hóa học 30/30 100% 0,5 10 2,16
4 Phân hữu cơ 25/30 83,33% 0 10 0,78
5 Thuốc kích sinh trưởng 0/30 0% 0 0 0
6 Dụng cụ 12/30 40% 0 2 0,16
7 Máy móc 21/30 70% 0 30 3,3
8 Chi phí thuê lao động 2/30 6,7% 0 5 0,33
9 Chi phí khác 0/30 0% 0 0 0

(Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát)

          Kết quả cũng cho thấy không có hộ dân nào sử dụng thuốc kích thích sinh trưởng, có 27% hộ dân không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và có 83,33% số hộ dân sử dụng phân hữu cơ để sản xuất rau. Điều đáng lưu ý chúng ta nhận thấy chi phí phân hóa học là khá lớn 2,16 triệu/năm (chiếm 23,97% trong tổng chi phí), trong khi đó chi phí cho phân hữu cơ là 0,78 triệu/năm (chiếm 8,66% trong tổng chi phí). Như vậy việc sử dụng phân hữu cơ sẽ làm giảm chi phí đáng kể khi người dân hiện nay đang sử dụng một lượng lớn phân vô cơ, làm suy giảm chất lượng đất.

Bảng 02: Diện tích, sản lượng và thu nhập từ trồng rau tại Bản Thẳm

TT Nội dung Số hộ Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất Trung bình Ghi chú
1 Diện tích (m2) 30/30 200 3.000 1143,3
2 Sản lượng (kg) 19/30 200 10.000 3.873,3
3 Thu nhập 2015 (trđ) 30/30 10 100 35,8
4 Thu nhập 2014 (trđ) 30/30 0 100 32,3

                                                            (Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát)

            – Từ bảng 02 chúng ta nhận thấy thu nhập trung bình năm của hộ dân từ trồng rau là hơn 30 triệu đồng/năm/hộ, hiệu quả kinh tế trồng rau là 30.000 đồng/m2/năm (tương đương 300 triệu/ha/năm) – đây là mức thu nhập tương đối cao, giá trị trung bình của 1kg rau là 9.242 đồng/kg – đây là mức giá tương đối cao.

            Như vậy, hiệu quả trồng rau của người dân bản thẳm là tương đối cao do người dân có kỹ thuật canh tác tốt, sử dụng đất tối ưu và có năng lực bán hàng tại các chợ tốt. Việc sản xuất rau đã có những đầu tư về máy móc, sử dụng phân hữu cơ,

            * Trong 30 hộ dân khảo sát tại Bản Tây Hưng chúng tôi có được một số kết quả cụ thể như sau:

            – Thu nhập bình quân của hộ gia đình là 76 triệu/năm/hộ (Chiếm 70%). Trung bình các hộ dân sử dụng 2300m2 đất để sản xuất khoai lang, khoai sọ.

Bảng 03: Chi phí trồng khoai tại bản Tây Hưng

TT Hạng mục chi phí Số hộ có chi phí Tỷ lệ Giá trị nhỏ nhất (trđ) Giá trị lớn nhất (trđ) Trung bình
1 Giống 19/30 63,3% 0 7 1,35
2 Thuốc bảo vệ TV 5/30 16,7% 0 2,5 0,19
3 Phân hóa học 29/30 96,7% 0 15 3,05
4 Phân hữu cơ 10/30 33,3% 0 2,75 0,62
5 Thuốc kích thích 0/30 0% 0 0 0
6 Dụng cụ 13/30 43,3% 0 4 0,24
7 Máy móc 5/30 16,7% 0 7  0,91
8 Thuê lao động 22/30 73,3% 0 28 2,9
9 Chi phí khác 0/30 0% 0 0 0

(Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát)

            – Từ bảng 03, cho thấy không có hộ dân nào sử dụng thuốc kích thích sinh trưởng, có 16,7% hộ dân không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và có 33,3% số hộ dân sử dụng phân hữu cơ để sản xuất khoai. Chi phí phân hóa học là khá lớn 3,05 triệu/năm (chiếm 32,94% trong tổng chi phí), trong khi đó chi phí cho phân hữu cơ là 0,62 triệu/năm (chiếm 6,7% trong tổng chi phí). Như vậy tại Bản Tây Hưng số hộ dân sử dụng phân hữu cơ bằng ½ so với bản Thẳm, số hộ dân sử dụng máy móc cũng thấp hơn so với Bản Thẳm.

Bảng 04: Diện tích, sản lượng và thu nhập từ trồng khoai tại Bản Tây Hưng

TT Tên mục Số hộ được hỏi Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất Trung bình
1 Diện tích (m2) 30/30 360 10.000 2.262
2 Sản lượng (kg) 30/30 300 10.000 2.053,3
3 Thu nhập 2015 (triệu đồng) 30/30 2 100 17,4
4 Thu nhập 2014 (triệu đồng) 30/30 0 100 17,7

(Nguồn: Tổng hợp từ kết quả khảo sát)

            – Từ bảng 04 chúng ta nhận thấy thu nhập trung bình năm của hộ dân từ trồng khoai là hơn 17 triệu đồng/năm/hộ, hiệu quả kinh tế trồng khoai là 7.692 đồng/m2/năm (tương đương 76,9 triệu/ha/năm) – đây là mức thu nhập thấp, giá trị trung bình của 1kg rau là 8.474 đồng/kg – đây là mức giá thấp. So sánh với Bản Thẳm thì hiệu quả kinh tế trồng khoai chỉ bằng khoảng ¼ so với trồng rau, lý do này cũng được lý giải bằng việc khoai chỉ trồng được 1 vụ trong năm do vậy hiệu quả sử dụng đất thấp, bên cạnh đó chi phí lao động và phân hóa học đang ở mức rất cao dẫn tới hiệu quả kinh tế trồng khoai thấp.

            Như vậy, các sản phẩm khoai đang sản xuất là tương đối an toàn bởi người dân không sử dụng chất kích thích sinh trưởng, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật là rất thấp (2,5% chi phí trong tổng chi phí, 16,5% số hộ khảo sát trả lời có sử dụng).

*  Kết quả khảo sát người tiêu dùng

            Qua kết quả khảo sát 90 người tiêu dùng tại Thành Phố Sơn La chúng ta thu được một số kết quả cụ thể như sau:

            – Trong số 90 đối tượng khảo sát chỉ có 50 người trả lời thường xuyên mua rau an toàn, đây là đối tượng chính để chúng ta xác định những yếu tố mà người tiêu dùng quan tâm.

            – Tại biểu đồ 01 chúng ta nhận thấy có 4 tiêu chí chính mà người tiêu dùng thường sử dụng để đánh giá mức độ an toàn của rau, trong đó sự cảm nhận trực tiếp của người tiêu dùng được đánh giá ở cao nhất với 34%, tiếp đến là có đóng gói bao bì với 27%. Như vậy việc các sản phẩm rau an toàn được người tiêu dùng trực tiếp mua tại các cửa hàng hay chợ sẽ là yếu tố quan trọng trong việc đưa ra quyết định mua bởi nhu cầu tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm là rất cao.

            – Tiếp theo tại biểu đồ 02 chúng ta lại nhận thấy yếu tố tạo niềm tin vào độ an toàn của sản phẩm lại chiếm tỷ lệ rất cao trong các yếu tố ảnh hưởng tới việc mua rau, trong đó nguồn gốc nơi sản xuất (86% người tiêu dùng lựa chọn), nơi bán có độ tin tưởng (80%), rau có chứng nhận (56%), rau đã từng ăn (54%), trong khi đó yếu tố giá cả hợp lý chỉ chiếm 38%. Kết quả khảo sát cũng cho thấy rằng 62% số người khảo sát chấp nhận mức giá của rau an toàn cao hơn rau bình thường là 10-15% và mức độ cao hơn 25% chỉ có 4% chấp nhận.

            – Tại biểu đồ 03 chúng ta có thể thấy một số khó khăn mà người tiêu dùng đưa ra khi mua sản phẩm rau an toàn tại Thành Phố Sơn La. Yếu tố đầu tiên là ít cửa hàng phân phối (33% người tiêu dùng lựa chọn), chủng loại rau không đa dạng (32%), yếu tố giả cao chỉ chiếm 14% và chất lượng chưa thực sự tốt chỉ chiếm %. Như vậy chúng ta có thể nhận thấy chất lượng rau an toàn tại Thành phố Sơn La là rất tốt và giá cả đang ở mức phù hợp, chúng ta cần đa dạng hóa các sản phẩm và mở rộng phân phối tạo thuận lơi cho việc mua hàng.

*  Kết quả khảo sát người bán hàng

             Qua kết quả khảo sát 20 người bán hàng rau khoai tại Thành Phố Sơn La, chúng tôi thu được một số kết quả như sau :

            – Trung bình một ngày người bán rau bán được khoảng 18,5kg, lượng rau bị hỏng khoảng 5-7%, doanh thu trung bình khoảng 228,2 nghìn đồng/ngày, như vậy đây là một mức thu nhập tương đối đảm bảo cuộc sống trung bình cho một gia đình cơ bản.

            – Thời điểm mua hàng thường là sáng sớm và có thể mua bổ sung vào buổi chiều, 45% vận chuyển bằng xe máy và 35 vận chuyển bằng đi bộ, người quen sẽ được các cửa hàng ưu tiên chọn mua hơn.

            – Chỉ có 1/20 người bán hàng cho biết là có hợp đồng mua bán rau, giá ở chợ là cơ sở để các bên thống nhất, chất lượng cũng có ảnh hưởng đến giá nhưng không nhiều. Những thông tin này cho thấy quy mô mua bán nhỏ và đã có thời gian mua bán lâu nên việc sử dụng hợp đồng đối với những người bán hàng này họ thấy không cần thiết, nhưng vẫn có 1 cửa hàng sử dụng hợp đồng để có được nguồn cung ổn định và có sự đảm bảo về chất lượng. Như vậy, nếu như chúng ta muốn ký hợp đồng tiêu thụ rau cho các hộ dân trong Dự án thì cần phải lựa chọn cửa hàng có quy mô lớn.

            – Chưa nhận thấy có sự liên kết giữa các cửa hàng với nhau, giữa người bán hàng và người sản xuất. Điều này được lý giải bởi nguồn cung ứng rau khá lớn nê những người bán hàng này chưa khó khăn trong việc tìm kiếm sản phẩm đầu vào, do vậy họ chưa nhận thấy vai trò của việc liên kết, mặt khác chúng ta cũng nhận thấy họ cho rằng chất lượng rau chưa tạo ra nhiều sự khác biệt về giá nên yêu cầu đối với rau là chưa cao.

            – Chiềng sinh được đánh giá là vùng sản xuất rau khoai tốt nhất tại Thành Phố Sơn La với hơn 90% đánh giá của các cửa hàng bán rau. 90% cửa hàng cho biết không muốn mở rộng diện tích bán hàng cho thấy nhu cầu thị trường về rau đang ở trạng thái ổn định và người bán hàng chưa nhận thấy được sức hút lớn từ nhóm khách hàng mua rau an toàn.